Khoa học công nghệ ngành Công Thương

Thứ năm, 14/11/2019 | 23:46

Thứ năm, 14/11/2019 | 23:46

Chính sách

Cập nhật lúc 04:10 ngày 05/11/2019

Đánh giá vai trò của khoa học – công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Tăng trưởng kinh tế luôn là vấn đề hàng đầu đối với mỗi quốc gia trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam. Kinh tế tăng trưởng tạo tiền đề thúc đẩy phát triển đất nước về mọi mặt, như: Tăng vốn tích lũy để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh; nâng cao đời sống người dân; cải thiện các vấn đề về phúc lợi công cộng: văn hóa, giáo dục, y tế và xóa đói giảm nghèo…
Việc xác định các nhân tố tác động nói chung, vai trò của khoa học - công nghệ nói riêng đến tăng trưởng kinh tế đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Sau những cải cách mạnh mẽ từ những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, tăng trưởng kinh tế Việt Nam ghi nhận những bước chuyển biến nhất định. Nền kinh tế thị trường dần được hình thành và có những kết quả tích cực, chính là nền tảng vững chắc cho những thành công về sau của nền kinh tế Việt Nam.
Từ những năm đầu thập niên 90 đến nay, kinh tế Việt Nam tăng trưởng tương đối nhanh và trở thành một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, tốc độ không đi cùng với quy mô nền kinh tế. Dù đứng ở top đầu về tốc độ tăng trưởng, nhưng quy mô nền kinh tế của Việt Nam còn nhỏ bé, so với một số các quốc gia trong khu vực (GDP khoảng 245 tỷ USD năm 2018).
Thực tế này đặt ra yêu cầu cần thiết phải có sự đánh giá, nhìn nhận lại chặng đường phát triển kinh tế của Việt Nam sau 30 năm đổi mới, nhất là về khoa học - công nghệ, để từ đó có các giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nước ta. Dựa vào số liệu thống kê về GDP và tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, bài viết sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích đánh giá vấn đề này.
Cơ sở lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
GDP và tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm nội địa (GDP) là chỉ tiêu giá trị tính bằng tiền của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trên phạm vi lãnh thổ của một nước, trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Đây là chỉ tiêu quan trọng thường được sử dụng để tính tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia (mặc dù chỉ tiêu này còn có một số khiếm khuyết trong khi tính toán, chưa phải là chỉ tiêu hoàn hảo). Tùy theo tình hình số liệu thu thập mà tính tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm hay tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm.
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm (g) được tính theo công thức:
Với g t : Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm t, Yt : Sản lượng quốc gia thực năm t
Yt-1: Sản lượng quốc gia thực năm t-1
 - Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm trong một thời kỳ (1-t) được tính:
Mô hình tăng trưởng kinh tế của Paul A. Samuelson
Mô hình này là sự kết hợp của học thuyết kinh tế Tân cổ điển và học thuyết kinh tế của trường phái Keynes với những bước phát triển quan trọng. Sản lượng của nền kinh tế được xác định bằng hàm sản lượng: Y = f( L,K,R,T). Trong đó, L là nguồn nhân lực; K là nguồn vốn; R là nguồn tài nguyên; T là công nghệ. Các trường phái kinh tế khác nhau đưa ra các mô hình tăng trưởng kinh tế khác nhau. Trong các mô hình tăng trưởng kinh tế, yếu tố đầu vào đóng vai trò quan trọng, giúp gia tăng sản lượng như: Vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, khoa học - công nghệ.
Kiến thức công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế
Kiến thức công nghệ là sự hiểu biết của xã hội về phương thức tốt nhất để sản xuất hàng hóa. Kiến thức công nghệ tiên tiến góp phần làm tăng năng suất lao động, gia tăng các sản phẩm cho xã hội. Kiến thức công nghệ có nhiều hình thức. Một số công nghệ là kiến thức phổ biến, nghĩa là sau khi một người dùng nó, người khác cũng có thể tiếp nhận. Một số công nghệ khác là độc quyền, chỉ được biết bởi công ty khám phá ra (như Coca cola). Các công nghệ khác còn lại độc quyền trong thời gian ngắn, ví dụ như một công ty dược khám phá ra một loại thuốc mới, cơ quan cấp bằng sáng chế sẽ trao cho công ty đó quyền tạm thời để trở thành nhà sản xuất độc quyền. Tuy nhiên, khi bằng phát minh hết hạn, các công ty khác được phép sản xuất sản phẩm theo công nghệ này.
Vấn đề đáng lưu ý nữa là cần có sự phân biệt giữa kiến thức công nghệ và vốn nhân lực. Mặc dù, cả 2 có mối liên hệ gần gũi nhưng chúng vẫn có những khác biệt quan trọng. Kiến thức công nghệ đề cập đến sự hiểu biết của xã hội đối với sự vận động của thế giới. Vốn nhân lực đề cập đến nguồn lực được sử dụng để truyền đạt sự hiểu biết đến người lao động. Trong điều kiện nguồn lực của xã hội có giới hạn, nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt, thì yếu tố khoa học – công nghệ (KHCN) đóng vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia.
Vai trò của khoa học - công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 1986 đến nay
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 1986 đến nay
Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ 1986 đến nay có thể chia thành 5 giai đoạn sau:
Giai đoạn từ 1986 – 2000: Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986 - 1990), Chính phủ tiến hành một số cải cách về kinh tế, cụ thể là tập trung triển khai 3 chương trình kinh tế lớn: Lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Các hình thức chia cắt thị trường dần được xóa bỏ, kế hoạch kinh tế của Nhà nước được thực hiện trên cơ sở hạch toán. Đặc biệt, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, tập thể được thừa nhận và bắt đầu được tạo điều kiện để phát triển mạnh mẽ. Nền kinh tế dần được thị trường hóa và chuyển biến tích cực.
Giai đoạn từ 1990 – 2000: Mặc dù, nền kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng nhờ triển khai mạnh mẽ đường lối đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước, kinh tế từng bước phát triển theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. GDP của nước ta tăng trưởng liên tục từ năm 1990 đến 2000 với mức tăng trưởng bình quân 7,35%. Trong vòng 10 năm, quy mô GDP tăng từ 6,5 tỷ USD lên 33,64 tỷ USD (gấp 5,18 lần). Bên cạnh đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, Việt Nam còn thành công trong việc kiềm chế lạm phát từ 3 con số giảm xuống còn 12,7% trong năm 1995 và 4,5% năm 1996. Trong giai đoạn này, Việt Nam bắt đầu hội nhập với các tổ chức quốc tế như gia nhập ASEAN.
Giai đoạn từ 2000 - 2006: Đây là giai đoạn Việt Nam tích cực hội nhập với các tổ chức kinh tế thế giới. Năm 2001, Việt Nam và Hoa Kỳ thông qua Hiệp định thương mại Việt – Mỹ. Động thái này, giúp Việt Nam có thêm cơ hội tiếp cận nguồn tài chính, phương thức quản lý hiện đại, thông tin thị trường và công nghệ tiên tiến.
Giai đoạn từ 2001 - 2005: Từ chỗ chỉ có 2 thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể với 2 hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh là doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và hợp tác xã kiểu cũ, nền kinh tế Việt Nam đã phát triển nhiều thành phần kinh tế khác nhau với nhiều loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng, phong phú cả về quy mô, trình độ lẫn quan hệ sản xuất. Đây là cơ sở giúp nền kinh tế Việt Nam luôn duy trì mức tăng trưởng từ 7 – 8% mỗi năm. GDP từ 33,64 tỷ USD năm 2000 tăng lên 66,37 tỷ USD năm 2006.
Giai đoạn từ 2006 đến nay: Trong năm 2006, nhiều tập đoàn lớn được thành lập như: Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Công nghiệp Cao su…, tuy nhiên, trong số 40 tập đoàn, có một số tập đoàn do sai lầm trong quản lý nên lâm vào khủng hoảng, gây hậu quả kinh tế nghiêm trọng. Năm 2007 tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 8,5%, mức cao nhất kể từ năm 1997, nhưng sau đó bị chững lại đột ngột chỉ đạt 5 - 6%. Nguyên nhân là do khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã đẩy kinh tế thế giới vào tình trạng suy thoái trầm trọng, kim ngạch xuất nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài và công ăn việc làm bị tác động tiêu cực. Thiên tai, dịch bệnh xảy ra liên tiếp trên địa bàn cả nước, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống dân cư.
Trước bối cảnh đó, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết nhằm ngăn chặn tình trạng suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Kết quả là GDP từ mức 66,37 tỷ USD vào năm 2006 đến năm 2018 đã đạt 244,98 tỷ USD, năng suất tổng hợp tăng dần từ giai đoạn 2006 – 2010 đạt 17,2%; đến giai đoạn 2011 – 2015 đạt 33,58%; đến giai đoạn 2016-2018 đạt 43,29%.
Cơ cấu các thành phần kinh tế có sự chuyển dịch nhất định, giảm tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước, tăng tỷ trọng khu vực kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Cụ thể, đóng góp vào GDP của khu vực kinh tế nhà nước giảm từ 29,34% năm 2010 xuống còn 28,69% năm 2015; khu vực kinh tế tư nhân tăng từ 6,9% năm 2010 lên 18,07% năm 2015 và 42,1% vào năm 2018.
Độ mở của nền kinh tế Việt Nam không ngừng được tăng cường bởi các quan hệ kinh tế song phương, tiểu vùng, vùng, liên vùng và tiến tới tham gia liên kết kinh tế toàn cầu. Đến cuối năm 2018, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế thương mại với hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ, thu hút trên 300 tỷ USD đầu tư nước ngoài. Số đối tác chính thức công nhận quy chế kinh tế thị trường của nước ta lên 69.
Tác động của khoa học - công nghệ đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Trong những thập niên gần đây, Việt Nam chứng kiến sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, nhất là trên các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới… đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, góp phần gia tăng hiệu quả sản xuất. Tuy nhiên, thay đổi công nghệ không chỉ thuần túy là việc tìm tòi, nghiên cứu. Công nghệ phát triển và được ứng dụng rộng rãi là nhờ sự duy trì và thực hiện cơ chế cho phép những sáng chế, phát minh được bảo vệ và được trả tiền một cách xứng đáng. Việt Nam có hơn 24.000 tiến sĩ, mạng lưới các tổ chức KHCN với trên 1.100 tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có gần 500 tổ chức ngoài nhà nước, có gần 200 trường đại học và cao đẳng, trong đó có 30 trường ngoài công lập. Từ năm 2000 tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho KHCN đã đạt 2%, đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách đầu tư phát triển KHCN của Đảng và Nhà nước. Ngoài ra, còn có các nguồn đầu tư cho KHCN từ DN, đầu tư nước ngoài và các quỹ về KHCN.
Từ sự quan tâm của nhà nước về phát triển KHCN, Việt Nam đã đạt được những thành tựu trên các lĩnh vực khoa học - xã hội – nhân văn, khoa học tự nhiên, xây dựng, công nghệ thông tin, truyền thông, y học. Những thành công trong nghiên cứu và ứng dụng KHCN đã góp phần làm cho chất lượng tăng trưởng kinh tế được cải thiện theo hướng bền vững và ổn định. Tuy nhiên, thực tiễn đội ngũ cán bộ KHCN chất lượng cao của Việt Nam hiện nay còn thiếu, trang thiết bị của các viện nghiên cứu, các trường đại học nhìn chung còn yếu, thiếu và chưa đồng bộ.
Giải pháp phát triển khoa học công nghệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững và lâu dài, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó xác định KHCN là một trong những giải pháp trọng yếu. Theo đó, thời gian tới, cần chú ý một số nội dung sau:
Một là, tạo động lực cho sự phát triển KHCN. Động lực phát triển KHCN luôn vận động từ 2 phía: Nghiên cứu khoa học và ứng dụng sản xuất, do vậy, cần phải khuyến khích DN sản xuất tự tìm đến khoa học, coi KHCN là yếu tố sống còn và phát triển của DN, như vậy, mới có thể thúc đẩy nghiên cứu về KHCN, các nhà khoa học mới có cơ hội để phát huy năng lực.
Hai là, tạo nguồn lực tài chính cho hoạt động nghiên cứu KHCN. Vốn là nguồn lực tiên quyết để phát triển KHCN. Thực tế tại nhiều nước cho thấy, nguồn lực tài chính phát triển KHCN thường được huy động từ 2 phía: Nhà nước và khu vực DN. Về đầu tư từ NSNN cho KHCN, Luật KHCN quy định cụ thể mức chi ngân sách hàng năm cho KHCN từ 2% trở lên và tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp KHCN. Trong thời gian tới, một phần vốn từ các chương trình kinh tế - xã hội và dự án cần được tăng cường cân đối nguồn để đầu tư cho KHCN, hỗ trợ đẩy mạnh nghiên cứu KHCN, triển khai và đảm bảo hiệu quả của dự án.
Ba là, đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, tài chính với mục tiêu là cho phép các tổ chức và các nhà khoa học có quyền tự chủ cao hơn trong thu hút vốn trong xã hội và sử dụng kinh phí vào hoạt động KHCN. Chính phủ cần ban hành các chính sách khuyến khích các viện nghiên cứu KHCN, các trường đại học cao đẳng, các  cơ quan, tổ chức nghiên cứu KHCN tham gia thực hiện các dự án KHCN cấp nhà nước và ở các địa phương cũng như ở các cơ sở sản xuất.
Bốn là, tận dụng xu hướng hội nhập ngày càng sâu rộng của đất nước nhằm mở rộng quan hệ quốc tế về KHCN. Nếu không thực hiện có hiệu quả quan hệ hợp tác và trao đổi quốc tế về nghiên cứu - triển khai thì không thể tiếp nhận được KHCN tiên tiến của nhân loại. Việt Nam cần đẩy mạnh hợp tác phát triển các ngành công nghệ cao; ưu tiên hợp tác đầu tư nước ngoài vào phát triển KHCN; chỉ nhập khẩu và tiếp nhận chuyển giao những công nghệ tiên tiến.
Năm là, có chiến lược đào tạo dài hạn nhằm tăng nguồn nhân lực KHCN. Đồng thời, cần đẩy nhanh việc đào tạo các cán bộ KHCN, nhất là cho các ngành kinh tế trọng yếu và các ngành công nghệ cao, trẻ hóa đội ngũ cán bộ KHCN trong các cơ sở nghiên cứu, các trường học và các cơ sở kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ phát triển thị trường nhân lực KHCN. Bố trí và phân công các cán bộ nghiên cứu khoa học theo đúng chuyên môn, ngành nghề.
Những biện pháp trên luôn có mối liên hệ mật thiết và tác động lẫn nhau. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp sẽ mang lại hiệu quả cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Kết luận
Trong những năm qua, sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực; chủ trương cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng được từng bước thực hiện. Tình hình kinh tế xã hội đã được phục hồi từng bước, năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh về cơ bản đang chuyển biến tích cực. Các so sánh quốc tế cho thấy sự chuyển biến đúng hướng này. Cần khẳng định những thành tựu này, để tiếp tục vững bước tiến lên trong bất cứ hoàn cảnh nào của môi trường tự nhiên, kinh tế và chính trị quốc tế. Nhưng nền kinh tế còn nhiều mặt yếu kém (nhất là các chỉ tiêu dựa trên các đòi hỏi chất lượng). Do đó, nếu không có sự tiến bộ không ngừng và toàn diện thì những thành tựu hôm qua có thể lại trở thành rào cản mới cho phát triển vượt lên cùng thời đại.
Con đường để Việt Nam tiếp tục phát triển trong thế giới đang có nhiều chuyển biến là cần đổi mới tư duy phát triển, coi trọng KHCN, coi trọng sức sáng tạo của người dân, coi trọng sự tương tác của nền kinh tế thị trường hoạt động dưới sự điều hành của Nhà nước pháp quyền và sự tham gia rộng rãi của người dân, tiếp tục có những chuyển biến mạnh mẽ trong cả thể chế kinh tế và chính trị, gắn bó tốt với kinh tế thị trường hiện đại, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của mọi người (dù đó là những người yếu thế, tầng lớp trung lưu hay người giàu), không để ai bị gạt ra ngoài trong quá trình phát triển.
Tóm lại, trong nền kinh tế không ngừng biến đổi, việc xác định được các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng. Nền kinh tế phát triển tốt hay không là phụ thuộc vào các yếu tố như: Nguồn vốn đầu tư, nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên, trình độ KHCN, trong đó yếu tố KHCN giữ vai trò rất quan trọng trong thực hiện tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững.
Tài liệu tham khảo:
1. Thống kê của Vietnam Report, năm 2014;
2. CIEM (2017), Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên sáng tạo và đổi mới công nghệ;
3. Báo cáo thống kê tình hình kinh tế - xã hội của Tổng cục Thống kê năm 2018;
4. Trần Thọ Đạt (2005), “Các mô hình tăng trưởng kinh tế”, NXB Thống kê;
5. Nguyễn Như Ý, Trần Thị Bích Dung (2017), “Kinh tế vĩ mô”, NXB Thống kê.
ThS. Trần Bá Thọ - Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
lên đầu trang